TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC THEO BỘ LUẬT HÌNH SỰ
- Luật sư Trần Ngọc Chung

- 3 giờ trước
- 10 phút đọc
Con người là vốn quý nhất của xã hội, vì vậy tính mạng và sức khỏe của mỗi cá nhân luôn được pháp luật bảo vệ. Trong đời sống hằng ngày, các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp, kéo theo sự gia tăng của những mâu thuẫn phát sinh trong sinh hoạt, lao động và giao tiếp. Nếu các mâu thuẫn này không được giải quyết đúng cách, chúng có thể dẫn đến những hành vi bạo lực, xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác. Một trong những tội phạm phổ biến hiện nay là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Hành vi này không chỉ gây đau đớn về thể chất, tinh thần cho nạn nhân mà còn làm mất trật tự an toàn xã hội và ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống cộng đồng.
Chính vì vậy, Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định cụ thể về tội danh này tại Điều 134 nhằm xử lý nghiêm minh những người có hành vi vi phạm.
I. KHÁI NIỆM TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người cố ý dùng vũ lực hoặc các phương thức khác tác động trái pháp luật lên cơ thể người khác, làm cho người đó bị thương tích hoặc bị tổn hại về sức khỏe.
Đây là một trong những tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của con người. Điểm đặc trưng của tội phạm này là người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có khả năng gây thương tích cho người khác nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Trong thực tế, hành vi cố ý gây thương tích có thể xảy ra dưới nhiều hình thức khác nhau như đánh nhau do mâu thuẫn cá nhân, sử dụng hung khí nguy hiểm để tấn công người khác, thuê người gây thương tích hoặc sử dụng hóa chất, axit để gây tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân.
II. CẤU THÀNH TỘI PHẠM
Để xác định một người có phạm tội cố ý gây thương tích hay không, cần xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
1. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội cố ý gây thương tích là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Theo quy định của Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Trong một số trường hợp nghiêm trọng, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
2. Khách thể của tội phạm
Khách thể bị xâm phạm là quyền được bảo vệ về sức khỏe của con người.
Sức khỏe là một quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật đều có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, hành vi cố ý gây thương tích còn ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, gây tâm lý bất an trong cộng đồng dân cư.
3. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội cố ý gây thương tích được thực hiện với lỗi cố ý.
Người phạm tội biết rõ hành vi của mình có khả năng gây tổn hại đến sức khỏe của người khác nhưng vẫn mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả xảy ra.
Động cơ phạm tội có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như mâu thuẫn cá nhân, ghen tuông, tranh chấp tài sản, trả thù hoặc hành động mang tính côn đồ. Tuy nhiên, động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội phạm.
4. Mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi cố ý tác động lên cơ thể người khác làm phát sinh thương tích hoặc tổn hại sức khỏe.
Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp đặc biệt được luật quy định.
Các trường hợp đặc biệt bao gồm:
- Dùng vũ khí, vật liệu nổ hoặc hung khí nguy hiểm;
- Dùng axit hoặc hóa chất nguy hiểm;
- Gây thương tích đối với trẻ em dưới 16 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
- Gây thương tích cho ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo hoặc người nuôi dưỡng mình;
- Có tổ chức;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Thuê người khác gây thương tích hoặc nhận thuê gây thương tích;
- Có tính chất côn đồ;
- Gây thương tích cho người đang thi hành công vụ.
III. CÁC KHUNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Nhằm bảo đảm tính răn đe và phòng ngừa tội phạm, Điều 134 Bộ luật Hình sự quy định nhiều mức hình phạt khác nhau dựa trên mức độ thương tích và tính chất nguy hiểm của hành vi.

Các khung hình phạt như sau:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;
c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;
đ) Có tổ chức;
e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;
i) Có tính chất côn đồ;
k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;
c) Phạm tội 02 lần trở lên;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:
a) Làm chết người;
b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm”.
IV. HẬU QUẢ CỦA HÀNH VI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
1. Đối với nạn nhân
Người bị hại có thể chịu những tổn thất nặng nề về sức khỏe và tinh thần. Nhiều trường hợp nạn nhân mất khả năng lao động, bị thương tật vĩnh viễn hoặc phải điều trị trong thời gian dài.
Ngoài những đau đớn về thể chất, nạn nhân còn phải chịu những ảnh hưởng về tâm lý như lo âu, sợ hãi hoặc trầm cảm.
2. Đối với người phạm tội
Người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự và có thể bị tước quyền tự do trong thời gian dài.
Bên cạnh đó, họ còn phải bồi thường thiệt hại cho người bị hại bao gồm:
- Chi phí điều trị;
- Thu nhập bị mất hoặc giảm sút;
- Chi phí chăm sóc;
- Khoản bồi thường tổn thất tinh thần.
Việc mang án tích cũng ảnh hưởng đáng kể đến học tập, việc làm và cuộc sống của người phạm tội trong tương lai.
3. Đối với xã hội
Hành vi cố ý gây thương tích làm gia tăng tình trạng bạo lực trong xã hội, gây mất an ninh trật tự và ảnh hưởng đến môi trường sống an toàn của cộng đồng.
Nếu không được ngăn chặn kịp thời, các hành vi bạo lực có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng hơn như giết người hoặc các loại tội phạm khác.
V. BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH
Để hạn chế loại tội phạm này cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp.
Trước hết, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật để người dân hiểu rõ hậu quả pháp lý của hành vi cố ý gây thương tích.
Gia đình và nhà trường cần chú trọng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống và kỹ năng giải quyết mâu thuẫn cho thanh thiếu niên.
Các cơ quan chức năng cần quản lý chặt chẽ việc sử dụng các loại vũ khí, hung khí nguy hiểm và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, biết kiềm chế cảm xúc và giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình thay vì sử dụng bạo lực.
KẾT LUẬN
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền được bảo vệ sức khỏe của con người. Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định cụ thể các dấu hiệu pháp lý và các khung hình phạt tương ứng nhằm xử lý nghiêm minh những người có hành vi vi phạm. Việc hiểu rõ quy định của pháp luật về tội cố ý gây thương tích không chỉ giúp nâng cao ý thức pháp luật của công dân mà còn góp phần xây dựng một xã hội văn minh, an toàn và tôn trọng quyền con người. Mỗi cá nhân cần có trách nhiệm ứng xử đúng mực, giải quyết mâu thuẫn bằng đối thoại và hợp tác để hạn chế các hành vi bạo lực trong đời sống xã hội./.












































